Đa Sỹ có miếu thờ danh y Hoàng Đôn Hòa và phu nhân, ông tổ nghề thuốc nam nổi tiếng thế kỷ thứ 16, người đã để lại 208 phương thuốc trị bệnh cứu người, được tôn thờ là Thành Hoàng làng.
Thần tích tại Miếu lưu lại rằng: danh y Hoàng Đôn Hoà là người ở thôn Huyền Khê, xã Thanh Oai trung, tổng Thanh Oai thượng, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên thi đậu Giám sinh, có tài đặc biệt về nghề thuốc, tiếng tăm của ông đã nổi danh không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài. Tương truyền ông đã cứu sống công chúa Phương Dung (con vua Lê Thế Tông) lâm bệnh hiểm nghèo mà danh y cả nước không ai chữa khỏi. Lê Thế Tông mến tài nên đã gả con gái cho ông. Năm Gia Thái (1574) triều đình cất đại binh đánh quân Mạc ở Thái Nguyên ông được cử làm "Điêu hộ lực quân" (quân y) sau khi thành công trở về ông được thăng chức "Thị nội thái y viện thủ phiên" (người đứng đầu trông coi việc chữa bệnh trong cung thái y) và được phong tước "Lương dược hầu". Là người không màng danh lợi, chức tước nên chỉ sau một thời gian làm quan rất ngắn, ông cùng vợ là Phương Dung công chúa xin về quê hương vừa bốc thuốc vừa dạy học, lấy sự nghiệp y học giúp dân làm lý tưởng và lẽ sống; hai ông bà tự kiếm, trồng lấy thuốc để chữa bệnh cho dân, cấp phát tiền gạo cho dân trong những năm bệnh dịch. Là người thầy thuốc lớn có tài, tiếng tăm trong, ngoài nước, ông đã soạn ra cuốn "Hoạt nhân toát yếu" một tác phẩm y học đương thời mà sau đó gần 200 năm vua nhà Thanh Trung Quốc biết đến cũng phải thán phục tài năng của ông và phong cho ông là "Lịch thế y" (thầy thuốc từng trải).
Miếu Đa Sỹ nằm bên cạnh dòng sông Nhuệ, nấp dưới cây Bồ Đề có tuổi chừng 3 thế kỷ. Từ ngoài vào là cột đồng trụ cao 8m làm theo lối cây đèn. Tầng trên cùng là 4 con phượng quay 4 hướng đầu đuôi chụm lại thành hình quả, hai bên trụ là tường gạch xây chắn tạo thành tường bao. Miếu xưa kiến trúc một gian về sau phát triển thành chữ Đinh và năm 1878 (Mậu Dần) được làm thêm Phương đình, Tả mạc, Hữu Mạc; Phương đình làm theo kiểu chồng diêm 8 mái có 16 hàng cột, 12 hàng cột gạch chạy xung quanh đỡ lấy 8 mái, bên trong là 4 cột gỗ đỡ toàn bộ kiến trúc. Nghệ thuật điêu khắc được làm vào thời vua Tự Đức với các đề tài được khắc chạm ở 4 bức cuốn 4 mặt phía, trong lòng chạm đề tài tứ linh là những con vật rồng uốn thuỷ, rùa úp lá sen, nghê mang hà hồ lạc thủ, phượng ngậm hàm thư; 4 bức phía ngoài đó là: 01 bức trúc hoá rồng, 01 bức mai hoá rồng, 01 bức thông hoá rồng, 01 bức cúc hoá rồng. Trên các ván bưng trạm khắc các loại hoa như Phù dung, Cúc, Đào, Lựu, chim Trĩ, Trúc Thông... 08 đầu dư là 8 đầu rồng mũi sư tử mồm loe ngậm ngọc, râu cá trê. Bốn cột lớn là 04 đôi câu đối làm lòng máng khảm trai ôm lấy cột. Chính điện nhà tiền tế là bức hoành phi lớn "Thần công hộ quốc", "Vạn cổ phúc thần", "Nhuệ giang phong nguyệt", "Thánh đức chương văn", "Thần công mặc tướng". Tiếp theo nhà thờ tiến tế và nhà trung điện kiến trúc 3 gian theo kiểu chồng dường giá chiêng con nhị được làm vào năm Gia Long thứ 2 (1803) và năm Khải Định thứ 7 (1922). Mỗi nhà có 4 cột gỗ, 4 cột hiên vôi gạch, 4 cột hậu, 2 cột vôi tròn; 8 cột ở 2 vì kèo đầu bổ trụ vuông để đỡ 02 vì đốc, có 18 cửa bức bàn, các đầu dư đều trạm lá lật, các cột trốn đều đẽo thượng thu hạ thách đặt trên các đấu vuông. Bước vào gian chính điện là một nhang án cao 2m, vuông 1m2, các mảng trạm được chia thành 9 lớp và chia nhiều ô vuông, mỗi ô đều trạm thủng với các đề tài lưỡng long chầu nguyệt, phượng bay ngậm dải lụa, hổ phù cắn chữ thọ, các loại cây như thông, mai, cúc, trúc, các đường nét đều trạm nổi trông rất mềm mại. Bên trái và bên phải là 02 lọng lớn kéo ra 02 bên là 02 giá cắm những cây bát tiên quá hải, một bộ là bộ bát bửu. Đồ thờ trạm khắc khá công phu được sơn son thếp vàng. Trên cùng là các bức đại tự được sơn son thếp vàng với các chữ "Dục tú trung anh", "Âm dương hợp đức" (sự cao đẹp của đức ông, đức bà), "Thọ tư dân", "Lương y quốc" với đôi câu đối:
"Y quốc tố dân sinh, lịch đại vinh bao long tự điện".
"Thần tự xưng cổ lý trường giang trung tú trạc linh thần"
Nội dung câu đối ca ngợi ngôi miếu đã thờ vị danh y có nhiều công lao giúp dân. Ngoài ra trong miếu còn có 02 con Hạc cao 2m mang nghệ thuật thế kỷ 18, 2 con ngựa hồng và trắng đặt trên cỗ xe, áo yên ngựa trạm nổi các đề tài rồng, hổ phù và hoa lá... Gian chính giữa của nhà Tiền tế và nhà Trung điện đều có cửa võng chạm thủng nhiều tầng với các đề tài lưỡng long chầu nguyệt, các hoa lá, cúc, trúc, thông, mai và các đề tài mới như hoa Phù dung, Đào, Liễu,... với đôi câu đối:
"Hạnh lâm đàm thánh trạch
Quất tỉnh dẫn thiên an" (nói về sự tích thuốc)
Nhà hậu cung là 3 gian dọc. Đặc biệt ở đây còn 2 vì kèo có niên đại cổ nhất của kiến trúc vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 làm theo kiểu giá chiêng con nhị. Vì ngoài, con nhị thứ nhất trạm nổi 2 con rồng mẹ đầu to mồm rộng giữa là 01 con rồng con, các đầu vuông sát liền kề với con nhị thứ hai mà không có cột chốn. Vì kèo thứ 2 con nhị là 2 con rồng uốn khúc chầu mặt nguyệt tay nắm râu cằm. Ở vì kèo này cột đội có 2 đầu vuông trên và dưới. Cột đội cả mảng là một cụm mây trạm nhiều đường cong như cánh chim phượng.
Ngồi trong một khám có kính bảo vệ là bức tượng Hoàng Đôn Hoà được đắp bằng đất sét trộn giấy bản được làm khoảng thế kỷ 19, bức tượng tròn cỡ to như người thật, tư thế ngồi nghiêm trang mặc áo thụng đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn sơn son thếp vàng. Diện mạo của Hoàng Đôn Hoà quắc thước nhưng hiền hậu. Hậu cung còn một nhang án trạm thủng kênh long mang phong cách của thế kỷ 18 với những con rồng và các cụm lửa, đao mác quen thuộc truyền thống có từ thời Hậu Lê.
Những di vật tiêu biểu trong Miếu Đa Sỹ gồm có: 01 Bia đá thời Phúc Thái thứ 6, 32 đôi câu đối bằng gỗ, hoành phi 7 chiếc, bát biểu 24 chiếc đều được sơn son thếp vàng, đôi hạc cao 2m2, 01 bộ kiệu bát cống, 01 bộ long ngai, 02 giá thư, 01 giá bát tiên 8 chiếc, 43 đạo sắc từ thời Vĩnh Tộ thứ 4 đến thời Khải Định...
Theo truyền thuyết ngày 12 tháng giêng âm lịch là ngày giỗ cụ Hoàng Đôn Hoà, nhân dân gọi là ngày vào đám, chính thức là 3 ngày từ 12 đến 15 tháng giêng âm lịch. Hàng năm phong tục hội hè tại miếu Đa Sỹ được tổ chức trước tiên là tục rước (động thổ) vào đêm 30 rạng ngày mồng 1 tháng giêng âm lịch. Nghi thức trước tiên có 3 hồi trống đánh dài để cho nhân dân thức dậy cùng đi rước "động thổ". Lễ rước từ miếu ra đình gồm có bài vị, long đình của thần để ở đình cho nhân dân lễ với ý nghĩa đây là thời gian tiếp dân. Đến ngày 12/1 lại tổ chức rước về miếu gọi là ngày vào đám hay ngày "sa giá hoàn cung". Trong ngày hội có tổ chức các trò chơi như chọi gà, đánh cờ... ban đêm ở miếu có hát ca trù. Đáng lưu ý là ngày 5/5 âm lịch có tổ chức lễ tại Miếu, buổi trưa ngày hôm đó dân làng đi hái lá vối, lá ngạnh, lá tre về phơi khô hoặc sắc uống. Đây là một bài thuốc trong cuốn "Hoạt nhân toát yếu" nổi tiếng của Hoàng Đôn Hoà.
Miếu Đa Sỹ có lối kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc, có vị trí đẹp và thoáng rộng, thờ 2 vợ chồng danh y nổi tiếng Hoàng Đôn Hoà, Phương Dung công chúa xứng đáng là một di tích danh nhân lịch sử và nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc ở đầu thế kỷ 17. Năm 1988, miếu Đa Sỹ đã được công nhận di tích cấp quốc gia./.